Hội thảo tực tuyến Cập nhật xử trí các vấn đề sản phụ khoa trong tình hình dịch bệnh

TÓM TẮT NỘI DUNG CHÍNH

Tóm tắt nội dung chính:

  1. Mặc dù hiện tại không có bằng chứng cho thấy nhiễm Covid-19 có liên quan đến các biến chứng thai nhi hoặc nhau thai nhưng khuyến cáo nên theo dõi thai nhi chặt chẽ hơn với những sản phụ có xác nhận nhiễm covid-19: siêu âm hàng tháng đánh giá tăng trưởng, nhau thai và nước ối, hình thái học (xem lại bài trước để so sánh)
  2. Những th nhiễm giai đoạn quý 1 hoặc đầu quý 2 cần thực hiện siêu âm hình thái học chi tiết từ 18-23 tuần.
  3. Tiếp tục sử dụng Folic acid và Vitamin D theo khuyến cáo.
  4. Nhiễm covid-19 không phải là chỉ định để cho osinh liền, trừ trường hợp cần cải thiện oxy mẹ
  5. Sinh đường âm đạo không chống chỉ định với sản phụ nhiễm/ nghi nhiễm
  6. Đối với sản phụ nhiễm không có triệu chứng hoặc nhẹ:
    1. Tuổi thai ≥ 39 tuần: xem xét chấm dứt thai kỳ.
    2. Tuổi thai 37+0 -> 38+7 mà không có chỉ định sản khoa khác: theo dõi thai thường quy cho đến 14 ngày kể từ khi có xét nghiệm dương tính hoặc 07 ngày kể từ khi khởi phát triệu chứng hoặc 03 ngày kể từ khi có sự cải thiện các triệu chứng.
  7. Đối với nhóm nặng hoặc nguy kịch:
    1. Không thở máy: Mẹk diễn tiến xấu dần, cân nhắc thai kỳ khi thai > 32 tuần bằng các khởi phát chuyển dạ (âm đạo hoặc mổ)
    2. Có thở máy: > 32 tuần xem xét chỉ định mổ lấy thai, < 32 tuần và có khả năng sống: chỉ đnhj sinh có thể trì hoãn nếu mẹ ổn định hoặc có cải thiện; mổ lấy thai nếu mẹ diễn tiến xấu hơn.
  8. Sản phụ có triệu chứng nghi nhiễm Covid thực hiện kiểm tra xq và CT như đối với người không mang thai là bước cần thiết phải thực hiện.
  9. Cảnh giác thuyên tắc phổi suy tinh khi sản phụ có các triệu chứng:
    1. Đau ngực
    2. Thiếu oxy trầm trọng
    3. Thở > 20 l/p
    4. Khó thở kéo dài
    5. Trầm trọng hơn sau khi phục hồi nhiễm Covid-19
  10. Những sản phụ còn trẻ, cân nặng vừa phải có thể bù trừ chức năng hô hấp giai đoạn đầu duy trì độ bão hòa oxy ở mức bình thường, thường có hiện tượng mất bù đột ngột.
  11. Cần chuyển tuyến hoặc can thiệp khẩn:
    1. Tăng nhu cầu oxy
    2. Tăng tần số thở mặc dù đang dùng oxy liệu pháp hoặc thở > 25l/p
    3. Lượng nước tiểu giảm
    4. Có dấu hiệu tổn thương thận (Cr huyết thanh > 77 umol/l ở sản phụ không có bệnh thận trước đó)
    5. Ngáp biểu hiện thiếu oxy khi độ bão hòa oxy vẫn đang ở mức bình thường.
  12. Bằng chứng của kháng virus và kháng thể đơn dòng còn hạn chế.

Hỗ trợ sinh sản trong đại dịch Covid-19

  1. Protein S giúp virus xâm nhập vào các tế bào đích thông qua sự hỗn trợ của protease TMPRSS2.
  2. Các thụ thể ACE-2 và TMPRSS2 có nhiều ở tinh hoàn, tuyến tiền liệt và các tế bào sinh tinh.
  3. Giảm mật độ tinh trùng, tăng bạch cầu, giảm thể tích, di động tiến tới và hình dạng bình thường so với nhóm chứng (?)
  4. Giảm nồng độ testosterol.
  5. Sars cov 2 không phải là bệnh lây truyền qua đường tình dục.
  6. Sars CoV 2 có thể gây hại lên sinh sản nam thông qua viêm tinh hoàn, giảm testosterol, tổng số và di động của tinh trùng.
  7. Sau khi sốt nên chờ đợi 3 tháng để đến chu kỳ tinh trùng tiếp theo.
  8. Thụ thể ACE 2 ít có ở nữ, nhưng nó có ở buồng trứng, vòi trứng, tế bào nhung mao, tế bào nội mô, âm đạo, ctc và … TMPRSS2 không thấy.
  1. Sự hiện diện của Sars CoV 2 ở hệ sinh sản phụ nữ rất ít.
  2. Phụ nữ mắc covid 19 có AMH thấp hơn, testosterol cao hơn và Prolactin cao hơn phụ nữ bình thường có ý nghĩa thống kê -> có nguy cơ ảnh hưởng đến chức năng buồng trứng.
  3. Chưa có nghiên cứu dài hạn về tác động của covid19 lên sinh sản nữ, chưa có số liệu về chất lượng và số lượng noãn, chưa có dữ liệu về thời gian xảy ra bất thường.
  4. Vắcxin mARN không ảnh hưởng lên sinh sản nam và nữ.

Bài liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *